CẢM NGHĨ VỀ TRUYỀN THUYẾT “AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỊ CHÂU – TRỌNG THỦY”
CẢM NGHĨ VỀ TRUYỀN THUYẾT
“AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỊ CHÂU – TRỌNG THỦY”
“Tôi kể ngày xưa chuyện Mị Châu
Trái tim lầm chỗ để trên đầu
Nỏ thần vô ý trao tay giặc
Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu”
(Tố Hữu)
Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, nếu cổ tích có “Tấm Cám”, truyện ngụ ngôn có “Thầy bói xem voi” thì truyền thuyết có “An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy”. Đây có thể xem là câu chuyện bi kịch đầu tiên trong văn học dân tộc, nó đã lấy đi không ít nước mắt cũng như sự căm phẫn của người đọc. Tuy nhiên, cũng chính vì thế mà ta đã rút ra được bài học cho chính mình: Đừng quá chủ quan, khinh thường địch mà chuốc lấy thất bại.
Trong buổi đầu dựng nước, An Dương Vương đã rất có công với dân tộc. Ông cho xây thành Cổ Loa với hi vọng nhân dân sẽ được ấm no hạnh phúc. Việc xây thành mãi vẫn không thành công, ông bèn cầu trời phật, giữ cho tâm mình trong sạch. Điều đó đủ để thấy tâm huyết của ông dành cho dân tộc là như thế nào. Nhờ sự giúp đỡ của sứ Thanh Giang cùng với tấm lòng yêu nước thương dân của ông, chỉ nửa tháng sau, thành đã được xây xong. Có lẽ ông đã vui mừng khôn xiết khi thấy điều đó. Ông còn lo cho vận mệnh đất nước khi tâm sự mối băn khoăn lại bị Đà xâm chiếm với thần Kim Quy. Thần đã cho An Dương Vương một cái vuốt. Ông đã làm thành nỏ, cái nỏ ấy có thể bắn ra hàng ngàn mũi tên chỉ trong một lần bắn (nhân dân gọi là nỏ thần). Nước Âu Lạc nhờ thế nên đã được sống trong thái bình thịnh trị. Ta thấy rằng An Dương Vương quả là một vị minh quân, một người biết nhìn xa trông rộng, biết lo trước những mối lo của thiên hạ. Nhưng cũng chính vì thế cũng đã hình thành tính tự mãn nơi ông. Khi Đà sang cầu hôn, ông đã đồng ý gả con gái mình cho con trai Đà là Trọng Thủy. Cuộc hôn nhân giữa hai nước vốn đã có hiềm khích là sự dự báo cho những mối hiểm họa về sau.
“Một đôi kẻ Việt người Tàu
Nửa phần ân ái nửa phần oán thương”
“Một đôi kẻ Việt người Tàu” lấy nhau như thế là một sự nguy hiểm khôn lường. Thế nhưng An Dương Vương không hề màng tới điều đó. Có lẽ ông chỉ mong hai nước sớm thuận hòa qua cuộc hôn nhân này và nhân dân sẽ không phải chịu cảnh khổ đau. Nhưng ông không biết được, kẻ thù dù quỳ dưới chân ta thì chúng vẫn vô cùng nguy hiểm. Ông nghĩ cho dân, nghĩ đến cái lợi trước mắt nhưng lại không nghĩ đến những điều nguy hiểm sắp đến. Vì thế, ông đã đưa cả cơ đồ “đắm biển sâu”. Sự tự mãn là bạn đồng hành của thất bại. Có nỏ thần trong tay, An Dương Vương dường như đã nắm chắc phần thắng trong tay. Đỉnh điểm là lúc được báo Triệu Đà sang đánh chiếm thì ông “vẫn điềm nhiên ngồi đánh cờ, cười mà nói rằng: “Đà không sợ nỏ thần sao?” Ông đã bước vào vết xe đổ của người xưa, để rồi lúc nguy cấp nhất, ông mới lấy nỏ thần ra bắn và biết là nỏ giả, liền dắt con gái bỏ chạy về phương Nam. Trong lúc cấp bách, ông chỉ biết mỗi việc bỏ chạy chứ không còn cách đối kháng nào khác. Khi ra đến biển Đông, ông còn không nhận ra được đâu là giặc, ông chỉ ngửa mặt kêu “trời” mà không biết phải làm gì. Đến khi thần Rùa Vàng hiện lên và nói: “Kẻ ngồi sau lưng chính là giặc đó!” thì ông đã rút gươm chém con gái của mình. Hành động dứt khoát, không do dự ấy đã chứng minh ông là một vị minh quân. Ông đặt việc nước lên trên việc nhà, không để việc riêng làm lung lay ý chí. Thần Rùa Vàng hay chính thái độ của nhân dân lao động đã bổ sung mọi khiếm khuyết cho ông. Khi ông không xây được thành, thần hiện lên giúp đỡ, khi ông lo cho vận mệnh đất nước, thần cũng hết sức chỉ bào ông và lúc này, khi nguy cấp nhất, thần cũng hiện lên để giúp ông. Phải chăng đó là sự ngưỡng mộ, sự tha thứ cho một vị minh quân của nhân dân? Chi tiết “vua cầm sừng tê bảy tấc, Rùa Vàng rẽ nước dẫn vua đi xuống biển” đã chứng minh điều đó. Biển cả đã mở rộng tấm lòng đón ông về. Những con sóng trôi dạt vào bờ lại bị bật ra năm nào liệu có còn nhớ hình ảnh hai cha con tội nghiệp? Nếu như kì tích xây thành Cổ Loa là một chiến thắng vẻ vang mang tính huyền thoại thì sự thất bại lần này của An Dương Vương mang tính hiện thực sâu sắc. Và bi kịch nước mất nhà tan ấy xuất phát từ mối tình duyên của Mị Châu - Trọng Thủy. Mị Châu là con An Dương Vương, là vợ Trọng Thủy và là con dâu của Triệu Đà. Nàng rất ngây thơ, yêu Trọng Thủy với một tình yêu trong sáng của con gái. Nàng đã trao cho Trọng Thủy tất cả trái tim mình. Mấu chốt chính là lúc nàng chỉ cho Trọng Thủy xem nỏ thần. Nỏ thần là bí mật quốc gia, là việc đại sự, thế mà nàng lại “vô tư” đến mức đưa cho Trọng Thủy xem. Nàng u mê, ngu muội đến mức lầm lẫn giữa “tình nhi nữ” và “việc quân vương”. Còn gì đau xót hơn chăng? Nếu xét về khía cạnh một người vợ thì Mị Châu là một mẫu hình lí tưởng cho chữ “tòng” thời ấy. Nhưng không chỉ là một người vợ, Mị Châu còn là công chúa của nước Âu Lạc. Khi đã tráo được nỏ thần, Trọng Thủy biện cớ về thăm cha. Trước khi đi, chàng nói với Mị Châu: “Tình vợ chồng không thể lãng quên, nghĩa mẹ cha không thể dứt bỏ. Ta nay trở về thăm cha, nếu như đến lúc hai nước thất hòa, Bắc Nam cách biệt, ta lại tìm nàng, lấy gì làm dấu?”. Câu nói đầy ẩn ý của Trọng Thủy thế mà Mị Châu không nhận ra. Nàng yêu Trọng Thủy đến mức còn không thèm đặt ra câu hỏi tại sao hai nước phải thất hòa, tại sao Bắc Nam phải cách biệt trong khi ta đã là “người một nhà”. Nàng chỉ hướng về hạnh phúc lứa đôi, mong đến ngày sum họp: “Thiếp phận nữ nhi, nếu gặp cảnh biệt li thì đau đớn khôn xiết. Thiếp có áo gấm lông ngỗng thường mặc trên mình, đi đến đâu sẽ rứt lông mà rắc ở ngã ba đường để làm dấu, như vậy sẽ có thể cứu được nhau”. Câu nói của Mị Châu là lời nói của một người vợ yêu chồng tha thiết. Nhưng nàng không biết rằng hành động của nàng đã cho Triệu Đà chiến thắng vua cha, cho Trọng Thủy đuổi theo giết cha mình.
“Lông ngỗng rơi trắng đường chạy nạn
Những chiếc lông không tự biết giấu mình”
Khi bị giặc truy đuổi, Mị Châu đã mặc chiếc áo lông ngỗng trên mình. Chiếc áo hóa trang lông ngỗng là trang phục của người phụ nữ Việt xưa trong những dịp lễ hội. Thế nhưng Mị Châu lại mặc nó vào lúc nguy cấp như thế này. Điều đó cho thấy nàng đã không còn lí trí sáng suốt nữa. Mọi hành động của nàng đều bị tình cảm vợ chồng chi phối. Trước khi bị vua cha chém đầu, nàng đã nói: “Thiếp là phận gái, nếu có lòng phản nghịch mưu hại cha, chết đi sẽ biến thành cát bụi. Nếu một lòng trung hiếu mà bị người lừa dối thì chết đi sẽ biến thành châu ngọc để rửa sạch mối nhục thù”. Nàng đã nhận ra được chân tướng sự việc, rằng người nàng đã yêu, đã tin tưởng bấy lâu nay chỉ là kẻ lừa bịp. Cái chết của Mị Châu là sự hóa thân không trọn vẹn, xác biến thành ngọc thạch, máu biến thành châu ngọc. Điều đó cho thấy sự cảm thông của nhân dân ta với Mị Châu, một người đã “vô tình” đưa nước Việt vào một ngàn năm nô lệ. Ba nhân vật, ba số phận, ba vai diễn đều do Triệu Đà đứng phía sau làm đạo diễn. Nhưng có lẽ, vai diễn của Trọng Thủy là khó khăn nhất. Chàng phải hóa thân thành nhiều vai, mỗi vai một tính cách khác nhau, đòi hỏi ở con người ta phải có tài năng diễn xuất kiệt xuất. Trước mặt An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy đeo chiếc mặt nạ là một người con rể, một người chồng hết sức yêu thương vợ. Nhưng chiếc mặt nạ còn lại Trọng Thủy giấu vào trong bóng tối. Chàng diễn hay đến mức không ai có thể nhận ra. Lời chàng nói với Mị Châu khi từ biệt, những hành động âu yếm của chàng đối với Mị Châu cho ta thấy chàng là một người đàn ông mẫu mực. Thế nhưng tất cả đã hoàn toàn sụp đổ khi ta nhận ra được âm mưu của chàng. Cuối truyện, Trọng Thủy cũng không thể nào sống yên cùng với những vinh hoa phú quý mà mình chiếm được. Tâm trạng chàng rất dằn vặt. Có lẽ trước khi thực hiện mưu đồ ấy, chàng cũng đã đấu tranh tư tưởng rất nhiều. Nhưng suy cho cùng chàng cũng là thân phận người Tàu, là con trai Triệu Đà và là nạn nhân của cuộc chiến tranh phi nghĩa. Chàng đã hết lòng trung thành với cha. Nhưng chi tiết chàng nhảy xuống giếng vì tưởng nhớ Mị Châu đã cho ta một cách nhìn khác về nhân vật này. Chàng đã gài một cái bẫy giúp cha mình, một cú lừa ngoạn mục để rồi chàng cũng chính là nạn nhân của cái bẫy ấy. Người đời sau mò được ngọc ở biển Đông lấy nước giếng này rửa thì thấy ngọc sáng thêm. Phải chăng Mị Châu đã tha thứ cho Trọng Thủy? Nhưng tin chắc rằng nàng sẽ không ngu muội nữa, vì lời nguyền của nàng là sẽ “rửa sạch mối nhục thù” chứ không cầu mong gì thêm. Ngọc sáng đã minh chứng cho tình yêu, lòng chung thủy và sự trong sáng, vô tội của nàng. Không như cổ tích, cái kết luôn có hậu cho mọi người. Truyền thuyết buộc ta phải suy ngẫm thật nhiều sau đó. Chúng ta phải biết đặt cái chung lên trên cái riêng, nhất là phải cảnh giác, đừng như An Dương Vương “nuôi ong tay áo, nuôi cáo trong nhà”. Và trong tình yêu phải luôn luôn sáng suốt, đừng nên lầm đường lạc lối để rồi phải trả một cái giá quá đắt như Mị Châu. Truyện vừa mang tính triết lí vừa thấm đậm ý vị nhân sinh như Tố Hữu trong “Tâm sự” đã nói:
“Vẫn còn đây pho tượng đá cụt đầu
Bởi đầu cụt nên tượng càng rất sống
Cái đầu cụt gợi nhớ dòng máu nóng
Hai ngàn năm dưới đá vẫn tuôn trào
Anh cũng như em muốn nhắc Mị Châu
Đời còn giặc xin đừng quên cảnh giác
Nhưng nhắc sao được hai ngàn năm trước
Nên em ơi ta đành tự nhắc mình”
(Bùi Đỗ Thanh Phương – Lớp 10A8 Trường PTTH PHÚ NHUẬN, TP.HCM)
CHUYỆN CHƯA BIẾT Ở LOA THÀNH
Sau khi hạ xong Loa Thành, diệt được cha con An Dương Vương, Triệu Đà giao cho Trọng Thủy cai quản Âu Lạc còn mình thì rút về tìm cách thôn tính các nước lân bang để tiếp tục mở rộng bờ cõi. Về phần Trọng Thủy, dù đã chiếm được nỏ thần và ngồi lên ngôi báu xong vẫn không sao nguôi được nỗi đau buồn, tiếc hận giày vò. Kể từ khi ôm xác Mị Châu táng tại Loa Thành, đêm nào y cũng tưởng tượng đến thân thể người vợ yêu bị chia lìa, đứt đoạn, máu chảy đầu rơi xong trong tay vẫn cầm chặt chiếc áo lông ngỗng. Nỗi ám ảnh tang thương ấy khiến Trọng Thủy không đêm nào yên giấc, cứ chập chờn mê mụ, hồn cũng như lãng đãng theo khói nhang lan tỏa. Thân tuy gấm vóc lụa là mà lòng lạnh hơn băng giá, mình nằm trên giường sập mà thịt da như có gai xước đá dồi. Một lần, trong giấc ngủ chập chờn, Trọng Thủy nghe có tiếng gọi văng vẳng mơ hồ của người tì nữ vẫn ngày ngày theo hầu sát bên Mị Châu thuở trước mới vùng dậy theo dấu lông ngỗng mà đi. Đêm khuya, trăng lặn, cũng chẳng rõ đường đi như thế nào, chỉ thấy lờ mờ như có tiếng sóng nước lúc róc rách như tiếng suối giữa rừng vắng, lúc lại âm âm như tiếng nước vỗ hang sâu. Chân không người kéo, tay chẳng ai lôi mà cú mải miết đi như không biết tới sự gập ghềnh trắc trở, bước thấp bước cao hệt như tên lính bại trận từ chiến địa trở về. Thình lình, ánh sáng từ đâu rọi tới lóa mắt, mới đứng lại định thần một lúc, đã thấy Mị Châu ngồi sừng sững trước mặt, dáng tiều tụy, mệt mỏi tựa hờ hững vào chiếc ngai vàng vỏ trai. Thế là bao nhớ thương tiếc hận bấy lâu ào ạt tuôn trào thành suối lệ. Chỉ có lời tủi mừng là như mắc nghẹn, dù muốn nói dù sao cũng không cất được lên.
Chờ cho Trọng Thủy khóc thỏa thuê, Mị Châu mới cất tiếng dịu dàng mà ánh mắt lạnh băng vẫn nhìn ra hướng khác:
- Trong hai ta, người đáng khóc lẽ ra phải là thiếp mới đúng. Vì thiếp một dạ tin yêu nên mới bị người ta phụ bạc, dối lừa để đến nỗi nước mất nhà tan, mạng vong mệnh yểu.
Trọng Thủy ngậm ngùi bảo:
- Nàng ạ, ta biết mình có lỗi với tình nàng lắm. Nhưng thân làm trang nam nhi, ân quân báo quốc phải là mục đích hàng đầu, ta đâu có thể vì tình nàng mà xao nhãng trách nhiệm cha giao. Hơn nữa, khi hai nước thất hòa chuyện giả mạo dối lừa làm sao tránh được. Dù vì tình thế mà ta phải đem lời dối gạt, song tình cảm với nàng hoàn toàn có thật ở lòng ta. Ta phụ lòng tin của nàng song đâu phụ tình yêu, xin nàng hãy xét cho ta điều đấy.
Nghe lời nói thiết tha, đôi mắt Mị Châu thoảng một nét u hoài. Song cũng rất nhanh, gương mặt nàng lại bình thản trở lai. Nàng chậm rãi đáp:
- Chàng lầm rồi. Trong cuộc sống vợ chồng, để có được hạnh phúc thì sao có thể tách bạch lòng tin với tình yêu. Dù chàng không phụ tình thiếp, song phụ lòng tin chính là chàng đã xúc phạm tới tình yêu rồi đó. Cuộc hôn nhân của chúng ta vốn chẳng phải vì tình mà yêu mà vù mưu đồ của cha chàng. Chàng sang làm rể Âu Lạc cũng chẳng phải vì thiếp mà vì lẫy nỏ. Cha tin đã chủ quan mà tin lầm cừu địch, thiếp lại quá ngây thơ nên không đoán định được dạ chàng. Thiếp một đời sống trọn đạo vợ chồng, chàng một dạ lo ân quân báo quốc. Kíp đến khi binh biến, hai nước đã hai giới tuyến thì quan hệ vợ chồng đâu còn có thể vẹn nguyên.
Trọng Thủy ứa nước mắt nói:
- Nàng ơi, đúng là lúc mới sang Âu Lạc, ta chỉ vì muốn đánh cắp bí mật của cha nàng mà phải sắm vai hiền tế. Song khi ở bên nàng, sự ngây thơ trong sáng và tình cảm mặn nồng của nàng đã làm tan bức tường băng giá trong ta. Tuy ta không dành trọn dạ cho tình nghĩa vợ chồng, song lúc biệt li ta đã không chỉ còn là tên gián điệp. Hẳn nàng còn nhớ những điều ta đã mói với nàng lúc trước chia tay chứ?
- Thiếp nhớ chứ. Vì câu nói ấy mà suốt dọc đường chốn chạy, thiếp cứ mê muội bứt lông ngỗng làm dấu cho chàng. Thiếp đâu biết chính sự mê muội ấy của mình đã đẩy hai cha con đến chỗ cùng đường tuyệt lộ.
- Ta không nói về chiếc áo lông ngỗng. Ta muốn nói về lời nhắc nhở với nàng kia! Khi mang lẫy nỏ ra đi, thực lòng ta đâu muốn chuyện can qua. Lòng ta lúc ấy ngổn ngang với nỗi đắn đo: vừa muốn hoàn thành sứ mệnh cha giao lại vừa không muốn cha ta san bằng Âu Lạc. Nếu ta nói thẳng ra với nàng thì vừa tan vỡ tình yêu, vừa mất đi tính mạng. Vì vậy, ta đành mượn lời bóng gió để mong rằng nàng nhắc nhở cha liệu đường chuẩn bị. Nào ta có ngờ đâu chính lòng tin tuyệt đối nơi nàng đã ngăn cản nàng nhận ra điều ngụ ý của ta…
- Ra vậy! Thiếp hiểu rồi… Vậy là chàng và thiếp tuy mỗi người một cách song đều là nạn nhân của một âm mưu, nạn nhân của tham vọng về đất đai, quyền lực của cha chàng.
- Tạ ơn nàng đã hiểu lòng ta. Ta cũng chán ghét cảnh binh đao, chán ghét cảnh đầu rơi máu chảy. Sau bao nhiêu mất mát thương đau, ta đã mệt mỏi rồi, ta đã muốn tìm một chốn yên bình để mà sám hối. Nay được gặp nàng, ta lại muốn hỏi liệu hai ta còn có thể đoàn tụ được không?
- Không được đâu chàng ơi! Dẫu thế nào thì hai ta vẫn là người của hai chiến tuyến. Dù có xóa bỏ được hận thù thì thiếp đã thuộc về cõi khác, ta sao có thể sum họp cùng nhau…
- Ta cũng biết là âm dương cách trở, không thể tính chuyện trăm năm. Nhưng nồng mặn bấy nay, thương nhớ làm sao xóa được. Phải những lúc cồn cào trong gan ruột, muốn gặp lại nàng, ta biết phải làm sao?
- Thiếp vì mắc tội với cha mà phải rơi đầu. Nhưng sai lầm của thiếp, chỉ có nước mắt của biển Đông mới mong gột rửa. Muốn tìm thiếp, chàng hãy tìm trong…
Mị Châu nói xong thì vừa lúc gà gáy sáng. Hình bóng mong manh khẽ rung nhè nhẹ rồi tan biến đi trong lãng đãng sương mờ. Còn lại một mình, Trọng Thủy cứ thẫn thờ tựa hồ có ai lấy đi hồn phách. Đến lúc cảm thấy mát lạnh sống lung mới nhận ra mình đang ngồi tựa vào một thành giếng. Vừa lúc quân hầu đến báo có người đem dâng vật lạ. Mới lững thững trở vào thì được biết đó là một con trai lớn ngư dân mới mò bắt được ở biển Đông. Thoáng giật mình biến sắc, sai người mở lòng trai để xem thì phát hiện một hạt châu thật lớn có hình giọt nước mắt. Trọng Thủy bụng bảo dạ: “Chẳng lẽ đây là nước mắt của biển Đông? Mị Châu nói với ta rằng hãy tìm nàng trong nước mắt. Không biết câu nói ấy với hạt châu này có gì can hệ?”. Từ đó trở đi, cứ lúc nào thấy lòng buồn khổ, Trọng Thủy lại mang hạt châu ra ngồi bên bờ giếng thuở nào, hi vọng gặp lại được Mị Châu lần nữa. Song bóng chim tăm cá, càng mong càng khuất dạng, càng đợi càng vô vọng. Soi mình xuống giếng thấy hình hài tiều tụy, thần sắc nhợt nhạt vô hồn. Bất chợt có cơn gió lạ, thấy xây xẩm mặt mày, lỡ tay làm rơi hạt châu xuống lòng giếng. Sai người mò tìm nhiều ngày mà không được mới đứng bên thành giếng mà rớt nước mắt khóc. Lạ thay, khi giọt nước mắt Trọng Thủy vừa rơi xuống giếng thì cả một trời lông ngỗng mờ mịt bay. Lúc lâu sau, gió tạnh trời yên, quân hầu mới hoảng hốt vì không thấy chủ đâu, chỉ thấy trên thành giếng một hạt châu lớn hình giọt nước mắt đang tỏa sáng.